Một số vi phạm đã được ban Giám hiệu trường Mầm non Tây Mỗ A khắc phục, nhưng còn nhiều vi phạm khác vẫn chưa được làm sáng tỏ đã khiến cô giáo Nguyễn Thị Minh Hồng giáo viên của trường gửi đơn khiếu nại đến Báo Kinh tế & Đô thị.
Bà Hồng cho biết: Do phát hiện Hiệu trưởng trường Mầm non Tây Mỗ A Nguyễn Thị Bảy đã nhiều lần gợi ý, đề nghị các cô giáo thỏa thuận với phụ huynh các em học sinh đóng góp tiền mua ti vi, máy điều hòa, mua dây điện, máy phát điện…Bên cạnh đó còn lập ra nhiều khoản thu sai khác, thậm chí thu cao hơn so với quy định và còn nhiều khoản chi tiêu chưa được công khai, minh bạch. Bà Hồng đã nhiều lần trao đổi, đóng góp ý kiến mong bà Bảy rút kinh nghiệm. Bà Bảy không những không tiếp thu mà ngược lại còn thách thức: “Cô thích đi kiện ở đâu thì kiện!”. Sau khi nhận được đơn phản ánh của bà Hồng, phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Từ Liêm đã cử cán bộ về kiểm tra, xác minh và đã có văn bản số 259/BC-PGD&ĐT ngày 19/9/2011 báo cáo UBND huyện Từ Liêm về việc giải quyết đơn của bà Hồng. Nội dung báo cáo thể hiện: “Năm học 2009 – 2010 và năm học 2010 – 1011 trường Mầm non Tây Mỗ A có nhận tiền thu từ những khoản thỏa thuận của phụ huynh các cháu ở nơi khác đến để mua bổ sung cơ sở vật chất cho nhà trường. Các khoản thu trái tuyến không có trong quy định, phòng đã yêu cầu nhà trường trả lại phụ huynh các em học sinh. Phòng đề nghị nhà trường họp hội đồng nhà trường để xem xét lại tiền hỗ trợ cho 4 đồng chí biên chế trong đó có cô Hồng, đến nay vấn đề này đã giải quyết xong”. Cũng văn bản nêu trên, đoàn thanh tra đã có kiến nghị trong việc xây dựng quy chế dân chủ, quy chế chi tiêu nội bộ cần rõ ràng, minh bạch và hoạt động tài chính từng khoản mục phải tách bạch, công khai.
Sau nhiều lần liên hệ đặt lịch làm việc với bà Nguyễn Thị Bảy, Hiệu trưởng trường Mầm non Tây Mỗ A theo số điện thoại, 01695588… nhưng không hiểu vì bận công việc hay lý do nào đó mà bà Bảy không nghe máy(!?). Chiều 14/12, phóng viên Báo Kinh tế & Đô thị đến trường Mầm non Tây Mỗ A gặp bà Bảy và trao đổi nội dung đơn kiến nghị bà Hồng nêu một số vấn đề khuất tất của nhà trường chưa được ban giám hiệu và phòng Giáo dục – Đào tạo huyện làm sáng tỏ. Bà Bảy hẹn đi có việc 20 phút sau sẽ quay về trường trao đổi với phóng viên. Nhưng khi quay lại, bà Bảy đã từ chối làm việc và đưa ra hàng loạt lý do rồi cho rằng: Hiện nay, phòng Giáo dục – Đào tạo huyện vẫn đang trong quá trình thanh tra, kiểm tra nên chưa có kết luận. Khi nào có kết luận chúng tôi sẵn sàng trả lời(!?). Bà Bảy cho rằng, việc cô Hồng có đơn gửi vượt cấp là sai. Thời gian qua cô Hồng đã làm đảo lộn mọi hoạt động của nhà trường và gây bất bình, bức xúc cho toàn bộ đội ngũ giáo viên của trường.
Để ổn định hoạt động của nhà trường và tránh gây ảnh hưởng đến việc học tập của các cháu. Đề nghị, UBND huyện Từ Liêm, Phòng Giáo dục – Đào tạo cần sớm làm rõ những nội dung bà Hồng phản ánh.
chocolate | qua tang valentine | download phan mem | mon ngon ngay tet | mon ngon de lam | dien toan dam may | buy vip | san pham | du lich do son | hinh nen dep |
(TNO) UBND tỉnh Bình Phước vừa bác đề nghị của Trường trung cấp Kinh tế – Kỹ thuật Bình Phước (TX.Đồng Xoài, Bình Phước) về việc xin mở lớp thạc sĩ.
Ngày 20.10, trường này đã có tờ trình đề nghị UBND tỉnh Bình Phước chấp thuận chủ trương cho liên kết với Trường ĐH Kinh tế TP.HCM mở lớp thạc sĩ.
Qua xem xét, UBND tỉnh khẳng định, trường không đủ tư cách và điều kiện được xem xét để cấp phép đào tạo các ngành hoặc chuyên ngành trình độ thạc sĩ mà chỉ được phép liên kết đào tạo trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.
Nhật Văn
chocolate | qua tang valentine | download phan mem | mon ngon ngay tet> | |
- Hiệu trưởng Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội xúc động tâm sự về những câu chuyện một trường công lập đã mạnh dạn nhận trẻ tự kỷ vào học. “Có em dù lên lớp 1 vẫn chưa biết nhai, chỉ ăn cháo. Cô, trò phải nhai mẫu để cháu ăn theo. Bố mẹ em đã khóc khi thấy con mình nhai được cơm”.


Xuống đường đi bộ vì ngày đặc biệt của những người mắc chứng tự kỷ (Ảnh: Quốc Lương – Minh Chính).
Tâm sự của một phụ huynh “may mắn”
“Khi con lên 6 tuổi chúng tôi đã vô cùng lo lắng đến mức độ gần như hoảng sợ khi nghĩ đến việc đi học của con. Gia đình tôi thực sự may mắn nằm trong số ít các gia đình có trẻ tự kỷ theo học được ở trường bình thường. Còn đa phần các gia đình trẻ tự kỷ đang rơi vào bế tắc trong việc tìm đường cho con đến trường” – Một phụ huynh có con đang học tiểu học ở quận Hoàng Mai, Hà Nội tâm sự.
Chị xúc động kể lại: “Cô giáo đã đón nhận con trai tôi vào lớp, cho phép cháu đươc đi lại trong lớp hay đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài ngay trong giờ học. Cô đã cho con tôi được ngồi ở những vị trí tốt nhất trong lớp để cháu có thể quan sát các bạn và đòng thời dễ nhận được sự hỗ trợ nhắc nhở của cô.
Cô xin nhà trường thêm một chiếc ghế để cháu có thể ngồi cạnh cô tại bàn giáo viên trong giờ làm bài thì cô thuận tiện giúp đỡ cháu. Cô cho phép tôi đươc đến dự giờ để hiểu hơn về những khó khăn của con ở trường mà về nhà dạy con thêm. Cô sắp xếp những bạn nhanh nhẹn, tốt bụng ngồi gần con và giao cho các bạn đó giúp đỡ nhắc nhở con.
Tôi đã rất ngần ngại không cho con đi tham quan cùng với lớp vì sợ con bị lạc nhưng cô đã động viên tôi mạnh dạn cho con hoà nhập. Khi đi tham quan có 2 bạn gái trong lớp được phân công “trông bạn” và các cháu không quên nhiệm vụ được giao mà luôn dắt tay bạn.
Tôi đã không chụp ảnh được hình ảnh con tôi được các bạn dắt tay đi trong hàng đi theo cô giáo bước lên xe ô tô để đi dã ngoại. Không ghi lại được bằng máy ảnh máy quay nhưng hình ảnh đó đọng mãi trong tâm trí tôi và làm cho tôi ấm lòng khi nhớ lại”.
Tự kỷ có lây lan?
Đến từ Trường CĐ Sư phạm mẫu giáo TW, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh chia sẻ: “Một khó khăn lớn khi trẻ tự kỷ học trong môi trường giáo dục bình thường đến từ phía phụ huynh. Họ không muốn con mình ngồi cạnh các bạn “bị” tự kỷ hay xin chuyển trường lớp cho con.
Xin khẳng định tự kỷ không lây lan. Đó chỉ là biểu hiện của trẻ mà cơ thể và não bộ xử lí tín hiệu kém hơn trẻ thường. Phổ tự kỷ được chia ra các mức độ từ nhẹ đến nặng. Trong đó, 70-80% trẻ nằm trong phổ nhẹ và trung bình. Do đó hoàn toàn có thể can thiệp để trẻ phát triển bình thường”.
Có 3 mô hình giáo dục trẻ tự kỷ được ThS Thanh đưa ra là: môi trường chuyên biệt, bán hòa nhập và hòa nhập.
Dẫn ra báo cáo từ Sở GD-ĐT Hà Nội cho biết hiện thành phố có 1021 học sinh tự kỷ đang học hòa nhập tại các cơ sở, theo ThS Thanh: “Tất nhiên, tốt nhất đối với trẻ tự kỷ là được học trong môi trường hòa nhập. Trẻ tự kỷ cần có cơ hội được đến trường. Vì nếu không thì hậu quả cuối cùng ngoài gia đình thì xã hội cũng gánh trách nhiệm lớn”.
Những ví dụ, cách làm cụ thể, đơn giản giúp nhà trường, phụ huynh có thể giúp giáo dục trẻ tự kỷ hòa nhập với mọi người đã được ThS Thanh minh họa bằng hình ảnh, video clip thực tế.
“Chỉ một câu nói bông đùa có thể sẽ là nỗi đau lớn đối với các em và gia đình trẻ tự kỷ”. Do đó, ngoài sự quan tâm của giáo viên, việc giáo dục, giúp các học sinh trong lớp giúp đỡ bạn hòa nhập cũng được vị chuyên gia nhắc nhiều trong chia sẻ của mình.
Cách làm hiệu quả của một trường tiểu học
Hiệu trưởng Trường Tiểu học Mai Dịch (quận Cầu Giấy, Hà Nội) Cao Thị Hồng một trường công lập có nhận trẻ tự kỷ từ năm học 2010-2011 cho biết: “Có em rất giỏi Toán, giỏi tiếng Anh hay âm nhạc nhưng đặc điểm chung là khả năng giao tiếp còn hạn chế, không kiểm soát được hành vi”.
Với sự giúp đỡ, có giáo viên chuyên biệt hỗ trợ trong những lớp có trẻ tự kỷ (không làm thay nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm), sự hợp tác của gia đình cùng việc kết hợp sự giúp đỡ của vòng tay bạn bè nên trong năm qua 7/8 em tự kỷ đã được lên lớp 2. Năm nay trường lại nhận thêm 7 em nữa vào học.
Bà Hồng xúc động tâm sự về một trường hợp: “Có em dù lên lớp 1 vẫn chưa biết nhai, chỉ ăn cháo. Cô, trò phải nhai mẫu để cháu ăn theo. Bố mẹ em đã khóc khi thấy con mình nhai được cơm”.
Một khó khăn lớn được bà Hồng chia sẻ: “Nhiều phụ huynh thường không nhận con mình có biểu hiện của trẻ tự kỷ. Do đó trường phải làm việc, phân tích cái được mất cho phụ huynh hiểu và giúp đỡ trẻ”.
Tìm hiểu kỹ đặc điểm của từng em thông qua phụ huynh, cô giáo mầm non và phương pháp giáo dục trẻ tự kỷ của các chuyên gia nên cô Đỗ Thị Hoa, giáo viên chủ nhiệm lớp 2B của trường tâm sự: “Với trẻ tự kỷ việc đánh giá, yêu cầu học tập cũng có sự điều chỉnh, ví dụ một bài tập đọc học sinh bình thường cần đọc trôi chảy, trả lời được hết các câu hỏi trong SGK thì các em tự kỷ giáo viên chỉ yêu cầu đọc trôi chảy một đoạn, trả lời được một câu hỏi thôi”.
Các ví dụ luôn được cô giáo sử dụng bằng đồ dùng trực quan để trẻ dễ nhận biết. Dù vất vả nhưng cô Hoa tin sẽ sớm giúp các em hòa nhập tốt với môi trường.
Những câu chuyện về cách dạy trẻ tự kỷ đã được các nhà chuyên môn, giáo viên và phụ huynh chia sẻ trong buổi hội thảo “Giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ cấp tiểu học” vừa diễn ra sáng 15/12 tại Sở GD-ĐT Hà Nội.
(Dân trí) – Bộ GD-ĐT vừa tổng kết đề án “Xây dựng và triển khai chương trình hiệu trưởng trường phổ thông theo chương trình liên kết Việt Nam – Singapore”. Theo đó, trong hai năm, các hiệu trưởng phổ thông trên phạm vi cả nước đều được tham dự chương trình với số lượng 29.493 người
Phát biểu tại buổi tổng kết Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga nhấn mạnh: “Chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng được thực hiện trong thời gian ngắn 2 năm trên phạm vi cả nước, với số lượng người tham gia rất lớn, có sức lan tỏa và tác động sâu rộng đến tất cả các trường phổ thông, tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn hệ thống”.

Quang cảnh hội nghị tổng kết đề án.
Là một trong những hiệu trưởng tham dự chương trình, thầy giáo Vương Toản – hiệu trưởng THCS Song Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) tâm sự: “Từ sau khóa học liên kết, bản thân tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong quá trình quản lý. Theo đó, tất cả giáo viên của trường đều phải đổi mới phương pháp dạy từ hình thức đọc chép sang giao quyền nhiều hơn cho học sinh (HS), để các em được nói, được suy nghĩ và làm việc”.
Một trong những dẫn chứng đổi mới và thầy giáo Vương Toản đưa ra đó là, trong mỗi giờ chào cờ nhà trường cho mời một HS đạt kết quả xuất sắc nhất lên chia sẻ kinh nghiệm học, làm gương cho HS khác noi theo.
Cũng theo thầy Toản, hiện nay toàn bộ giáo viên trong Trường THCS Song Hồ không đánh giá HS hư mà chỉ nói là HS chưa ngoan, hay không nói HS yếu mà thay bằng HS chưa đạt chuẩn kiến thức. Tất cả điều đó đã đem lại hiệu quả rất lớn trong công tác giáo dục của trường và tạo động lực cho các em học tập.
Từng theo sát đề án ngay từ những ngày đầu, ông Lee Sing Kong, giám đốc Học viện Giáo dục Singapore, chia sẻ: “Trong bối cảnh ngành giáo dục đang thay đổi trên toàn thế giới thì hiệu trưởng phải là người có năng lực, tư duy mới đáp ứng được nhu cầu. Hiệu trưởng hãy chuyển những gì mình có cho học sinh. Mỗi nhà giáo là tấm gương lớn nhất của học trò nên phải tự nhắc mình mỗi ngày có thêm một kiến thức, một kinh nghiệm mới”.
Ông Lee Sing Kong cũng hi vọng Chính phủ hai nước tiếp tục có những chương trình hợp tác về giáo dục và Học viện Giáo dục Singapore luôn sẵn sàng chung tay giúp sức, cũng chia sẻ kinh nghiệm để nền giáo dục ngày càng tốt hơn.
Theo báo cáo tổng kết, năm 2009, dự án bồi dưỡng cho hơn 13.200 hiệu trưởng. Năm 2010 bồi dưỡng cho gần 17.000 hiệu trưởng và cán bộ quản lý giáo dục. Được biết, từ năm 2008, với sự giúp đỡ của Bộ Giáo dục Singapore và quỹ Teamasek, Bộ GD-ĐT đã tổ chức cho 150 giảng viên cấp quốc gia và 320 giảng viên cấp tỉnh tham dự dự án. Sau khi tiếp cận, học tập cùng với sự giúp đỡ của giảng viên Học viện Giáo dục Singapore, 36 giảng viên khóa 1 cấp quốc gia đã xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu.
Nguyễn Hùng




in
Xem phản hồi
Gửi phản hồi
Làm sao dạy học sinh cá biệt nên người luôn là câu hỏi khó tìm lời giải. Nhưng có những giáo viên vẫn chịu khó, sáng tạo để tìm ra “thuốc đặc trị”.
Đồng cảm và bảo vệ
Ông Trần Tấn Tài – Phó phòng Giáo dục Q.5, TP.HCM, nhiều năm làm Hiệu trưởng Trường THCS Trần Bội Cơ cho biết, ông đã từng phát hiện, xử lý rất nhiều vụ học sinh (HS) liên quan đến trộm tiền bạn học. Nhưng có điều khá đặc biệt là khi tìm ra thủ phạm, ông không công khai danh tánh mà lại bảo vệ các em. Điều này mới nghe qua có vẻ nghịch lý, nhưng ông cho rằng, nếu nêu tên, bạn học biết mình là kẻ cắp, các em sẽ mặc cảm và ghét bỏ cả thầy cô. Chẳng những thế, khi bị bạn bè chế giễu là kẻ ăn cắp thì các em sẽ bị ảnh hưởng tâm lý rất lớn, dễ dẫn đến chán học.

Lớp 10A3 Trung tâm GDTX Tân Bình, TPHCM đầu năm có 2/3 HS cá biệt, nay HS đã ngoan và lớp xếp hạng 5 trong thi đua toàn trường.
Ông Tài cũng chia sẻ kinh nghiệm phát hiện học sinh trộm tiền thông qua phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả: Loại trừ. HS sẽ lấy ra một mẫu giấy, ghi và trả lời các câu hỏi như: Em có “lỡ” lấy tiền của bạn không? Bạn nào thường hay lấy đồ của bạn khác mà không trả? Trước thời gian bạn bị mất trộm, em thấy ai khả nghi?… “Do các em không ghi tên trong giấy nên sẽ trả lời rất thật và mạnh dạn. Sau đó mình lọc lại thì chỉ còn khoảng 5-6 em khả nghi. Mình chỉ cần mời từng em lên làm việc, mình nhìn thẳng vào mắt các em, nếu em nào lấy trộm, chắc chắn không dám nhìn lại. Đồng thời, mình đánh vào lỗi lầm của các em như một sự đồng cảm: ai cũng từng có lỗi lầm và thầy cũng vậy, cũng từng mắc sai lầm. Nhưng quan trọng mình biết nhận lỗi và sửa sai để trở thành người tốt. Cuối cùng mình hứa với HS là sẽ bảo vệ, không để ai biết em là kẻ cắp. Nếu mình thực hiện được điều hứa, các em sẽ thấy tin tưởng ở thầy cô giáo, và chắc chắn các em sẽ phấn đấu”, ông Tài nói.
Tìm cách giải tỏa năng lượng
5 năm trở về trước, Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, Q.4, TP.HCM nằm trong tình trạng “báo động đỏ”. Ông Trần Ngọc Minh – nguyên Hiệu trưởng, cho biết: “Chuyện “choảng” nhau của HS trường này trước kia như cơm bữa. Một ngày đánh nhau mấy lần, đánh trong trường, đánh ngoài đường, lôi cả giang hồ vào đánh”… Trước thực trạng này, ông cho thành lập hàng loạt các CLB âm nhạc, hội họa, võ thuật… và tìm cách tuyên truyền để HS cá biệt tham gia. Ông ví HS như năng lượng hạt nhân, mình sử dụng theo mục đích nào là do mình. “Khi vui chơi, hoạt động trong các CLB, các em sẽ hết năng lượng, và khi về nhà là các em ngủ, nghỉ, không đi quậy phá, lâu ngày sẽ thành thói quen. Đồng thời thầy cô giáo phải có quá trình theo dõi sự thay đổi của các em”, ông Minh nói.
Mặt khác, ông cũng nhận ra rằng, những HS lớp 10 thường xuyên đánh nhau nhất. Bởi các em đến từ nhiều trường, nhiều nơi khác nhau nên chưa có thời gian hiểu nhau. Do vậy, cứ mỗi đầu năm học, ông lại sinh hoạt cho HS tự giới thiệu để tạo sự gần gũi.
Tìm hiểu tâm lý từng đối tượng
Trong các trường giáo dục thường xuyên, tình hình phức tạp hơn. Theo ông Phan Minh Khoa – Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên Q.Tân Bình (TP.HCM), HS giáo dục thường xuyên thường có học lực yếu, hoàn cảnh cá biệt (nghèo, nhập cư từ các tỉnh, đã nghỉ học, vừa đi học vừa đi làm, lớn tuổi…) nên giáo dục HS này không vi phạm đạo đức là điều rất khó.
Hiểu đặc điểm của HS, ông đề ra biện pháp: giáo viên khi tiếp cận một trường hợp HS hư phải xác định lứa tuổi, giới tính để nắm được tâm sinh lý của HS, nguyên nhân dẫn HS đến chỗ cá biệt (do mâu thuẫn gia đình; cha mẹ thường xuyên cãi vã, ly hôn; cha mẹ nuông chiều; mồ côi cha, mẹ; ở xa gia đình…). Từ đó, giáo viên tiếp cận HS vi phạm bằng cách lắng nghe HS giải trình, thái độ tôn trọng và hòa nhã. Ông Khoa khẳng định: “Đối tượng HS này mình cần phải tìm giải pháp tâm lý sẽ hiệu quả hơn là kỷ luật nghiêm khắc”.
Tiến sĩ Trương Công Thanh – Viện Nghiên cứu giáo dục, cho rằng: “Để giáo dục HS cá biệt khó hơn rất nhiều so với dạy HS khá giỏi. Người thầy phải có cái tâm mới có thể chuyển hóa được HS cá biệt, yếu kém thành ngoan hiền. Hiện nhiều trường chỉ có phần thưởng cho những thầy cô giáo bồi dưỡng HS giỏi mà không chú ý đến giáo viên dạy HS cá biệt. Điều này khiến giáo viên không có động lực trong việc cảm hóa, dạy bảo tâm huyết HS cá biệt”.
Theo
Minh Luân
Thanh Niên




in
Xem phản hồi
Gửi phản hồi
(Dân trí) – Hào hứng học tập, khả năng làm việc nhóm hiệu quả, tự tin đứng bảng thuyết trình với các bạn cùng lớp… Câu chuyện khó tin nhưng thực tế lại đang diễn ra ở một trường học thuộc một tỉnh vùng cao.
Trường THCS Thống Nhất không phải là một cơ sở quá nổi bật của thành phố Hòa Bình bởi lẽ đơn vị có đến 97% học sinh (HS) là người dân tộc Dao. Nếu như trước năm 2008 tình trạng HS bỏ học vẫn còn phổ biến thì những năm trở lại đây với việc cơ sở vật chất nhà trường được dự án phát triển giáo dục THCS II – Bộ GD-ĐT quan tâm kết hợp với việc áp dụng công phương pháp dạy học mới nên sĩ số các lớp lúc nào cũng duy trì ở mức 100%.
Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó.
Chia sẻ với chúng tôi với những thành quả “khó tin” đã đạt được, cô Nguyễn Thị Mai – hiệu trưởng nhà trường chia sẻ: “Ngoài vấn đề cơ sở vật chất khang trang hơn thì yếu tố khá quan trọng để giúp HS say mê học tập và siêng năng đến lớp là sự thành công của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện – HS tích cực”. Hai tháng trở lại đây việc đưa công cụ thiết kế bản đồ tư duy (BĐTD) vào giảng dạy lại càng tăng thêm sự sôi nổi trong học tập”.
Cả thầy lần trò đều “mê” bản đồ tư duy
Khách nào bước chân vào phòng họp hội đồng của Trường THCS Thống Nhất đều ấn tượng bởi những hình vẽ bằng nhiều màu sắc khác nhau. Từ việc định hướng về phương pháp học tập, cách thức thực hiện phong trào “Xây dựng trường học thân thiện – HS tích cực” đều được thể hiện bằng BĐTD.
Nội dung triển khai phong trào “Xây dựng trường học thân thiện- HS tích cực”
được thiết lập bằng BĐTD ở Phòng họp hội đồng.
Thấy chúng tôi mê mẩn bên những hình vẽ, hiệu trưởng Mai tươi cười cho biết: “Cả thầy lẫn trò đều mê lắm. Có hôm dù đã hết giờ học nhưng thầy và trò vẫn say sưa “sáng tác”. Trước tinh thần hăng say như vậy Ban giám hiệu cũng “học tập” theo. Phương pháp này có ưu điểm là bắt buộc HS phải học bài thì mới có thể vẽ được, cũng giống như chúng tôi phải nắm vững chủ trương của ngành thì mới tạo ra những BĐTD như các bạn đang xem”.
Để minh chứng cho điều này, cô Mai đã đưa chúng tôi lên tham dự một tiết học của HS lớp 9. Với tiêu đề bài học “Ô nhiễm môi trường”, cả thầy lẫn trò Trường THCS Thống Nhất đã khiến những người tham dự phải “tâm phục khẩu phục”.
HS trong nhóm say mê thiết kế BĐTD sau khi được tiếp thu bài giảng.
Khởi đầu vẫn bằng phương pháp giảng dạy truyền thống kết hợp với các hình ảnh minh họa thông qua hệ thống máy chiếu. Nhưng điểm nổi bật của tiết học này là rời bỏ cách thức học “đọc – chép” hay “nhìn – chép” mà thay bằng cách nếu ý chính sau đó phát triển. Nếu như trước kia mỗi khi kết thúc bài giảng giáo viên sẽ là người hệ thống kiến thức lại thì giờ đây nhiệm vụ lại được giao cho các HS.
Lớp học khoảng 40 HS sẽ được chia thành 4 nhóm. Các thành viên của một nhóm phải gắn kết với nhau để thể hiện toàn bộ nội dung bài học trên bản đồ tư duy. Nếu tận mặt chứng kiến khoảng thời gian 10 phút của các nhóm làm việc chúng ta mới thấy HS ở đây “ham” với BĐTD như thế nào. Em Hoàng Lan Hương, trưởng nhóm I chia sẻ: “Từ khi được tiếp cận với BĐTD, em thấy mình học hiệu quả và dễ tổng hợp kiến thức. Các bạn trong nhóm đều có trách nhiệm học bài, nhìn thì có vẻ là khó nhưng trên thực tế thời gian để bọn em chuẩn bị bài học không quá nhiều”. “Cũng thông qua cách học này mà vừa rồi em đạt giải HS giỏi cấp tỉnh môn Sinh đấy” – Lan Hương khoe.
Không chỉ dừng lại ở “năng suất” làm việc, sự thể hiện của các HS trên BĐTD khiến cả lãnh đạo Bộ lẫn Sở GD-ĐT Hòa Bình bất ngờ. Cùng một chủ đề về bài học “Ô nhiễm môi trường” nhưng 4 nhóm lại có 4 cách thể hiện khác nhau với những nét rất riêng. Có nhóm thể hiện bằng cách giải thích cặn kẽ nhưng có nhóm lại lại thể hiện rất đơn giản. Điều đáng nói ở chỗ là các em rất tự tin lên bảng “thuyết trình” sản phẩm của mình trước lớp.
Thuyết trình “sản phẩm” với những ý tưởng và cách thể hiện khác nhau.
Cả một bài học 2 tiết nhưng nhóm 3 của lớp (đa phần là HS nam) đã khiến các nhóm khác phải trầm trồ khen ngợi. Không giải thích, không viết nhiều chỉ thể hiện thông qua giản đồ hình ảnh nhưng người thuyết trình của nhóm vẫn giải thích được đầy đủ bài học. Chẳng hạn như nếu như các nhóm khác miêu tả cả yếu tố ô nhiễm môi trường bằng chữ viết như khí thải, hóa chất… thì những HS này chỉ thể hiện bằng cách vẽ một chiếc ô tô, một lọ hóa chất…
Thầy Nguyễn Mạnh Hùng, giáo viên bộ môn tâm sự: “Ưu điểm của BĐTD rất lớn đó là hạn chế chữ, chuyển sang các hình thức kênh màu, kênh hình. Chính các yếu tố này đã tạo cho thí sinh hứng thú hơn khi tiếp cận với bài học. Mặc dù mới đưa BĐTD vào giảng dạy khoảng 2 tháng nhưng cá nhân tôi thấy nó khá hiệu quả, được thể hiện qua việc các em tiếp thu nhanh và nhớ bài lâu hơn”.
Kiểu học mới giúp thoát “lối mòn”!
Theo
TS.Trần Đình Châu, Giám đốc Dự án phát triển giáo dục THCS 2 (Bộ GD-ĐT) người đã mạnh dạn giới thiệu phương pháp học tập thông qua việc sử dụng BĐTD thì hình thức học này sẽ giúp HS học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất là sẽ giúp HS nắm được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức.
Không những thế, để thiết lập nên một BĐTD, các HS sẽ phải sử dụng đến bố cục màu sắc, đường nét, các nhánh hay cả việc sắp sếp các ý sao cho vừa súc tích, trực quan, dễ hiểu và dễ tiếp thu…. Từ đó góp phần giúp HS phát triển khả năng thẩm mỹ, việc sắp xếp ý tưởng một cách khoa học. Đồng thời, việc sử dụng BĐTD còn giúp cán bộ quản lý có cái nhìn tổng quát toàn bộ vấn đề, giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp HS học tập tích cực.
Kiểu học mới đã giúp cả thầy lẫn trò thoát khỏi lối “đọc-chép”.
“Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đâm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não” – TS Châu cho biết.
Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều trường trong cả nước đã sử dụng BĐTD vào phương pháp giảng dạy nhưng không phải đơn vị nào cũng có thể thành công. Theo bà Nguyễn Thị Hồng – Phó phòng GD-ĐT thành phố Hòa Bình thì công cụ BĐTD chỉ phát huy tính hiệu quả khi nhà trường làm tốt công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh để họ ủng hộ. Bên cạnh đó cần phải linh động sử dụng đối từng môn học, tiết học. Nếu chúng ta lạm dụng quá mà lại quên kết hợp với phương pháp giảng dạy truyền thống thì chắc chắn không thể có tính hiệu quả cao.
Từ những năm 2006 đến 2009 nhóm nghiên cứu của Dự án THCSII và Viện Khoa học Giáo dục đã ấp ủ, nghiên cứu, thử nghiệm thành công thiết kế bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy học ở một số trường ở Hà Nội, Bắc Giang. Sau đó nhóm nghiên cứu đã “trình làng” kết quả nghiên cứu bằng một đề tài khoa học. Nhiều bài báo khoa học của nhóm nghiên cứu này được công bố ở một số Tạp chí Khoa học và tờ báo chuyên ngành có uy tín đã thu hút sự quan tâm và áp dụng vào dạy học của nhiều giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục khắp cả nước.
Thiết kế BĐTD là một phương pháp học tập mới, hiện nay đã có một số trường tham gia Dự án Phát triển giáo dục THCSII và một số giáo viên qua đọc sách, báo cũng đã áp dụng thành công vào dạy học. Nhờ BĐTD, ghi chú bài giảng của giáo viên trở nên linh hoạt, giúp người dạy tiết kiệm được thời gian và công sức, có điều kiện để dạy học sáng tạo
.
Nguyễn Hùng




in
Xem phản hồi
Gửi phản hồi
Tin từ Bộ GD-ĐT ngày 14/12, để chuẩn bị cho mùa tuyển sinh năm 2012 ngoài phương án tăng khối thi đã công bố, Bộ dự kiến thêm 2 phương án để các trường chọn lựa. Cụ thể, các trường đủ năng lực sẽ tổ chức thi tuyển riêng và xét tuyển tích hợp hai khối có trùng môn thi ĐH.

Ảnh: Lê Anh Dũng
Cả ba phương án sẽ được trưng cầu ý kiến tại hội nghị tuyển sinh diễn ra trong tháng 1/2012.
Theo Bộ GD-ĐT, phương án thứ nhất Bộ đưa ra là kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2012 sẽ bổ sung thêm một số khối thi để đáp ứng tốt hơn yêu cầu kiểm tra năng lực đầu vào của ngành đào tạo. Thực hiện phương án này các trường vẫn thi chung đề, chung đợt và chung kết quả thi.
Phương án thứ hai là các trường tự tổ chức thi riêng. Với những trường thực hiện phương án này học sinh sẽ không có cơ hội đăng kí xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ cùng khối thi. Tuy nhiên theo thông tin từ Bộ này thì đến nay vẫn chưa có trường ĐH nào đăng kí tổ chức thi riêng.
Phương án thứ ba sẽ trưng cầu ý kiến các trường được Bộ dự kiến sẽ thực hiện xét tuyển tích hợp giữa các khối. Cụ thể, với thí sinh thi khối A (Toán, Lí, Hóa), khối B (Toán, Hóa, Sinh) sẽ được thêm cơ hội xét tuyển lấy điểm Toán, Hóa (khối A) cộng điểm môn Sinh (khối B) để xét tuyển vào các trường trong vùng tuyển. Tuy nhiên, phương án này đưa ra có nhiều ý kiến cho rằng khó cho người thực hiện, dễ nhầm lẫn.
Việc chốt phương án nào sẽ được quyết định tại hội nghị tuyển sinh diễn ra trong tháng tới.
Vẫn theo Bộ GD-ĐT, mùa tuyển sinh năm 2011 có rất nhiều trường ĐH, CĐ lâm cảnh tuyển không đủ chỉ tiêu. Thậm chí có trường CĐ chỉ tuyển được 7 thí sinh…
Theo Kiều Oanh
Vietnamnet
(Dân trí) – Một khảo sát mới nhất được công bố tại hội thảo khoa học “Giải pháp gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động ở Việt Nam” do Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQGHN vừa tổ chức cho thấy sinh viên thất nghiệp do thiếu định hướng nghề.
Học chỉ cần có bằng đại học
Cuộc hội thảo nằm trong dự án Nghiên cứu chính sách hợp tác với Quỹ Rosa – Luxemburg của CHLB Đức. Theo khảo sát công bố tại hội thảo, trong số gần 3.000 sinh viên đã tốt nghiệp được hỏi, có 73% sinh viên (SV) tìm được việc sau khi tốt nghiệp, song có tới 58,2% SV tốt nghiệp không biết xin việc ở đâu, 42% không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, 27% không xin được việc vì lý do ngành học không phù hợp với thị trường, thậm chí có 18% SV không tìm được việc vì nhà tuyển dụng không biết đến ngành đào tạo.
Từ góc độ người giảng dạy, TS. Trịnh Văn Tùn và Ths. Phạm Huy Cường, Trường ĐH KH XH & NV - ĐHQGHN đã có nghiên cứu điều tra sự gắn bó giữa ngành đào tạo và nghề kì vọng nhìn từ góc độ hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp của/cho SV ĐHQGHN. Kết quả điều tra cho thấy, đa số SV đều chưa có một định hướng cụ thể nào cho nghề nghiệp của họ sau khi tốt nghiệp với con số 70% trả lời ”
đ
ã nghĩ tới công việc rồi nhưng chưa chắc chắn và không có nhiều thông tin về hệ thống ngh
ề”
gắn với định hướng đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, một bộ phận lớn SV sau khi đã đi gần hết quá trình đào tạo trong trường đại học, chuẩn bị bước vào môi
trường lao động nghề nghiệp, thì họ còn thiếu một định hướng đầy đủ và cụ thể cho nghề
nghiệp của mình.
TS. Trịnh Văn Tùn cho hay: “Ở đây chúng tôi mới chỉ đánh giá được ở góc độ tinh thần,
tâm thế của SV và đặc biệt là sự khiếm khuyết thông tin về các nghề gắn với ngành
đào tạo. Do vậy, mức độ mù mờ trong định hướng nghề của SV là rất cao. Họ nghĩ đến việc làm nhưng không biết làm việc gì cụ thể để phát huy kiến thức và kĩ
năng học được từ ngành học. Như vậy, mối liên hệ được kì vọng là chặt chẽ giữa bên
cung lao động và cầu lao động chưa đạt được”.
Cũng theo kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm trong nghiên cứu của TS Tùn, cho thấy rằng, một bộ phận không nhỏ SV ngay từ khi lựa chọn ngành học và trong quá trình học, đã không có một sự định hướng cụ thể và “cũng không được ai khuyên” về các nghề gắn với ngành học của mình. Việc SV tiếp cận và theo học chuyên môn hiện tại của mình đôi khi xuất phát từ một điều ngẫu nhiên, từ một kinh nghiệm gia đình, bè bạn hoặc chỉ đáp ứng được nhu cầu “có bằng đại học”.

Sinh viên cần trang bị nhiều kỹ năng mới có khả năng tìm được việc làm ngay sau khi ra trường.
Doanh nghiệp thờ ơ với SV mới ra trường
Phân tích về chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo, bà
Vũ Thu Hà, giám đốc công ty CP ứng dụng tâm lý Hoa Mặt Trời, cho biết: “Theo một thống kê, có đến 94% SV mới ra trường khi đi làm cần được đào tạo lại để đáp ứng nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Trong đó, các nội dung cần đào tạo lại có 92% về nghiệp vụ chuyên môn, 61% về kỹ năng mềm cơ bản, 53% về kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hóa… Điều đáng nói là trong quá trình tuyển dụng, không ít lần chúng tôi gặp phải đó là SV, kể cả những SV có bằng loại giỏi nhưng lại rất yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là những kỹ năng thực hành để bắt tay ngay vào công việc. Nhiều SV còn chưa xác định được mục tiêu nghề nghiệp của mình, còn mơ hồ với năng lực và khả năng của mình cũng như không biết bản thân có phù hợp với nghề đã chọn nữa hay không”.
Các chuyên gia cho biết một điểm yếu khác mà SV hiện nay thường mắc phải là khả năng ngoại ngữ, tin học và kỹ năng sử dụng các thiết bị văn phòng còn rất yếu kém. Nhiều SV bị trượt ngay từ vòng phỏng vấn do yếu kém ngoại ngữ và tin học văn phòng. Khi vào làm việc, nhiều SV lúng túng khi phải sử dụng những thiết bị như máy in, máy fax, máy photocopy… và điều này thường gây khó chịu cho nhà tuyển dụng.
Bà Hà cho rằng: “Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp tỏ ra thờ ơ với SV mới ra trường. Họ cho rằng phải mất nhiều thời gian để đào tạo lại SV tốt nghiệp từ những kỹ năng cơ bản như soạn thảo văn bản, gửi email cho đến giao tiếp, tác phong làm việc. Bù lại, họ tập trung tuyển chọn những cá nhân có nhiều kinh nghiệm làm việc để bắt tay ngay vào công việc của họ yêu cầu. Điều này trực tiếp làm giảm đi cơ hội có được việc làm cho các SV khi mới tốt nghiệp ra trường”.
Bà Hà đề nghị: “Cần phải thay đổi hệ thống, phương pháp, nội dung giáo dục ngay
tại các cơ sở đào tạo. Theo chúng tôi, hiện tại, các chương trình đào tạo tại các trường đại học mang tính hàn lâm, rập khuôn một chiều, ít gợi mở tính sáng tạo cho người học, quá trình giáo dục thiếu chủ động vì thế chúng cũng tạo ra nguồn nhân lực thụ động, với kiến thức cái gì cũng biết nhưng biết không đến nơi đến chốn. Cần có sự phối hợp và liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và các đơn vị tuyển
dụng. Về phía nhà trường, nên đưa chương trình đào tạo kỹ năng vào chương trình chính thức”.
Đưa ra giải pháp nâng cao năng lực tìm kiếm việc làm cho SV tốt nghiệp ra trường, TS. Phạm Mạnh Hà, khoa Tâm lý học, Trường ĐH KH XH&NV, cho rằng một trong những biện pháp mang tính khả thi cao nhằm giúp các SV nhanh chóng tìm được việc làm phù hợp đó là trang bị ngay cho họ những kỹ năng mềm cần thiết (kỹ năng phỏng vấn xin việc, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng định vị bản thân…) trước khi các em tốt nghiệp ra trường. Ngoài các kiến thức chuyên môn, chuyên ngành thì SV cần được trang bịthêm những kiến thức và kỹ năng xã hội để có thể hòa nhập dễ dàng với thị trường lao động ngay sau khi tốt nghiệp.
TS Hà kiến nghị: “Các chương trình tập huấn kỹ năng nên được tổ chức thường xuyên, có chất lượng ngay từ năm thứ nhất đến năm thứ tư với các nội dung tập huấn được sắp xếp phù hợp với tính chất của từng năm học. Ví dụ năm thứ nhất, SV cần được trang bị kiến thức và kỹ năng định vị bản thân và xây dựng mục tiêu nghề nghiệp, năm thứ tư SV lại cần được rèn các kỹ năng tìm kiếm việc làm và phỏng vấn xin việc… Chương trình tập huấn kỹ năng cần được bổ sung vào chương trình học tập chính khóa nhưng vì đây là một môn học mang tính thực hành cao do đó cần được các giảng viên chuyên nghiệp trong giảng dạy kỹ năng đảm nhiệm. Tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm biện pháp tác động này một cách nghiêm túc và khoa học để từ đó áp dụng vào chương trình đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng”.
Hồng Hạnh




in
Xem phản hồi
Gửi phản hồi